.
Gia đình Phật tử VDT
1, 2, 3, 4, 5, 6 ... 14 - bottom
Lưu ý: Tất cả vấn đề về tôn giáo đều nhậy cảm, không khéo xử sự dễ sinh ra chuyện đáng tiếc. VietDitru thiết kế mục riêng để thành viên dễ dàng sinh hoạt. Thành viên phải để ý tế nhị trong cách hành xử.

LỬA THÁNG SÁU
Huệ Trân

Tháng sáu, trong lòng Phật tử Việt Nam không mấy ai không hồi tưởng lại biến cố bi tráng bốn mươi sáu năm trước, từng gây chấn động và bàng hoàng lương tâm nhân loại toàn cầu. Biến cố đó là ngọn lửa bùng lên trên thân xác một vị thầy tu đã vị pháp thiêu thân, hy hiến thân mình để đòi hỏi những quyền tự do căn bản của con người, trong đó, có quyền tự do tôn giáo.

Ngọn lửa hồng phựt lên ở ngã tư đường, thuộc địa danh rất nhỏ bé, khiêm nhường trên bản đồ thế giới. Đó là mảnh đất mang hình chữ S, nằm trên bán đảo Đông Dương, thuộc đông nam Châu Á. Ấy thế mà biến cố đó sau khi xẩy ra đã lập tức xôn xao và rúng động toàn cầu khi bức ảnh chụp vị thầy tu ngồi an nhiên bất động trong biển lửa được phổ biến.

Phản ứng khắp thế giới đều kinh ngạc và kính ngưỡng trước sức mạnh của Từ Bi, Trí Tuệ và Dũng Cảm. Ngọn lửa hồng đó không chỉ rực rỡ ở ngã tư đường của một quốc gia nhỏ bé mà nhất loại bùng lên ở Pháp: “ Trước hành động hiến thân tranh đấu cho chánh pháp thì kẻ tàn bạo nhất cũng phải chùn bước”; ở La Mã: “Đức Giáo Hoàng biểu lộ sự quan tâm và đau đớn khi theo dõi biến cố bi thảm đang đọa đầy dân tộc Việt Nam”; ở Mỹ: “Mục sư Donald Harrington đã nghẹn ngào trong buổi giảng trước đông đảo tín đồ rằng, người ta tự hỏi, sự khủng khiếp và phẫn hận tột cùng nào đã khiến một người tiêu biểu cho Tình Thương, cho Hòa Bình lại quyết chí tự thiêu? Đây không phải là hành động tuyệt vọng, chán đời của một người bình thường mà là chí nguyện của bậc xuất trần, với lòng yêu đời nồng nàn nhất, đã hy hiến thân mình cho lý tưởng cao cả”; ở Trung Hoa: “ tấm ảnh Vị Pháp Thiêu Thân đã lập tức được in ra hàng triệu bản để nhân dân đón nhận bằng sự xúc động, cảm phục; và các nước Châu Á như Tích Lan, Ấn Độ, Miến Điện, Đài Loan, Cam Bốt, Nhật Bản … những nơi đậm nét Đạo Phật đều bồi hồi tiếng nức nở trong muôn tỷ trái tim …

Hai phóng viên của tờ báo nổi tiếng, New York Times là Malcolm, người chụp tấm ảnh lịch sử và David Halberstam, người viết bài tường thuật lịch sử, đều đoạt giải thưởng cao quý nhất trong lãnh vực truyền thông báo chí. Những giòng chữ trong bài tường thuật đi kèm với hình ảnh, đã như lằn chớp xuyên thẳng vào trái tim từng người đón nhận và bật thành những tiếng khóc, tuôn thành những suối lệ:

“ … Flames were coming from a human being! His body was slowly withering and shriveling up, his head blackening and charring. In the air was the smell of human flesh; human being burned surprisingly quickly. Behind me, I could hear the sobbing of the Vietnamese, who were now gathering. I was too shocked to cry, too confused to take notes or ask questions, too bewildered to even think … As he burned, he never moved a muscle, never uttered a sound. His outward composure in sharp, contrast to the wailing people around him …” “ … Lửa phủ ngập khắp người! toàn thân khô nhăn, đầu cháy nám. Không khí tỏa mùi cháy khét của thịt người! Thật ngạc nhiên, thân xác một con người có thể cháy nhanh như thế! Phía sau, tôi đã nghe thấy tiếng khóc nức nở của những người Việt Nam vây quanh. Tôi quá hoảng loạn đến không thể khóc, quá bối rối đến không thể ghi chép hay hỏi han gì, quá bàng hoàng đến không thể có nổi một ý tưởng nào … Trong biển lửa, vị thầy tu không hề cử động, không khởi một âm thanh. Sự an nhiên tuyệt diệu của ông thật tương phản với đám đông đang vây quanh …”

Lời Đức Thế Tôn ân cần khuyến tấn: “ Con đường Trung Đạo ta đã chỉ, các con hãy thắp đuốc lên mà đi.”

Hơn hai mươi lăm thế kỷ qua, Tăng Đoàn vẫn kiên cường tiếp nối bước chân Từ Phụ. Từ 1250 thành 12500, rồi 125000 …… 125000000 … số lượng tựa muôn cát sông Hằng, chẳng thể còn tính đếm. Từng ngọn đuốc dẫu nhỏ, nhưng nếu thể hiện đủ tinh thần Bi Trí Dũng của Chánh Pháp thì ngọn lửa đó vẫn mang trọn vẹn sứ mạng của ngọn lửa bất diệt, dẫu đứng trước cuồng phong bạo lực.

Dùng quyền uy dập tắt Lửa Chánh Pháp ư?

Không thể!

Lịch sử ngàn đời đã chứng minh!

Chớ lầm ngọn lửa vô hình mầu nhiệm đó với ánh lửa đốt từ củi mục của tham sân si!

Nhưng vô minh thời nào chẳng có nên cùng trong tháng sáu, trong khi muôn tấm lòng con Phật hướng về ngọn lửa thắp sáng Chánh Pháp từ pháp thân Bồ Tát Quảng Đức, thì thương thay, cũng một địa danh trên giải đất hình chữ S, những bó đuốc tội nghiệp từ một vài bàn tay phàm phu đã bật lên, không phải để soi sáng tự thân hay giúp soi sáng cho ai trên đường Phật dạy, mà theo nghiệp vô minh, những bó đuốc đốt bằng củi mục đó đã mê cuồng, chỉ để phóng hỏa những chòi lá, những am tranh của hàng trăm Tăng Lữ trẻ đang thanh tịnh tu học, thúc liễm thân tâm trong mùa An Cư Kiết Hạ !!!

Ngược dòng lịch sử bốn mươi sáu năm trước, báo chí thế giới có đoạn viết: “Buổi chiều cùng ngày Hòa Thượng Thích Quảng Đức Vị Pháp Thiêu Thân, hàng ngàn người dân Sài Gòn khẳng định rằng, họ thấy trên không trung, mờ ảo gương mặt của Đức Phật. Đức Phật đang nhỏ lệ thương xót chúng sanh!”

Điều đó đúng hay sai, thấy hay không thấy, có thể là chiêu cảm từ niềm xúc động tột cùng. Nhưng, chỉ cần thêm một sát na tĩnh lặng, quán chiếu về bao sự mầu nhiệm quanh trang sử hoành tráng đó, chắc chắn chúng ta cùng thực sự cảm nhận được giọt lệ từ bi của Đấng Cha Lành?

Tháng sáu 2009, Đức Phật đang nhỏ lệ trên không gian Bát Nhã!

Nam Mô Đại Từ Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát

Nam Mô Đại Từ Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát

Nam Mô Đại Từ Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát


Huệ Trân - Độc-Cư-Am, Tháng sáu, 2009

136542 top -
Phóng viên David Halberstam viết trên tờ thời báo New York:
“I was to see that sight again, but once was enough. Flames were coming from a human being; his body was slowly withering and shriveling up, his head blackening and charring. In the air was the smell of burning human flesh; human beings burn surprisingly quickly. Behind me I could hear the sobbing of the Vietnamese who were now gathering. I was too shocked to cry, too confused to take notes or ask questions, too bewildered to even think.... As he burned he never moved a muscle, never uttered a sound, his outward composure in sharp contrast to the wailing people around him.”

Tạm dịch:

“Tôi lại thấy cảnh đó thêm lần nữa, dù một lần là đã đủ. Ngọn lửa lan ra từ một con người; thân thể ông từ từ cháy khô và teo nhăn lại, đầu của ông đen dần và hóa thành than. Mùi cháy khét của thịt người tỏa vào trong không khí; con người có thể cháy nhanh một cách đáng ngạc nhiên. Phía sau, tôi có thể nghe tiếng khóc của những người Việt giờ tụ tập tại đó. Tôi đã quá sốc để có thể khóc, quá bối rối để có thể ghi chép lại hay đặt câu hỏi, quá ngỡ ngàng để có được ngay cả ý tưởng... Khi cháy, ông ấy không hề cử động một bắp thịt nào, không hề bật ra một âm thanh nào, sự điềm tĩnh của ông thật trái ngược với cảnh những người khóc than xung quanh.”

Cảnh sát đã cố ngăn vụ tự thiêu nhưng không thể xuyên qua được đám đông Phật tử đang vây quanh Thích Quảng Đức. Một cảnh sát phi mình vào và phủ phục trước hòa thượng nhằm tỏ lòng kính trọng[18]. Những người chứng kiến phần lớn sửng sốt trong yên lặng, số khác thì khóc thét và bắt đầu cầu nguyện. Nhiều nhà sư và ni cô cũng như người qua đường vì quá bàng hoàng đã quỳ lạy trước vị hòa thượng đang cháy bừng[18]. Một nhà sư đã nhiều lần tuyên bố trong một microphone bằng cả tiếng Anh và tiếng Việt: "Một nhà sư đã tự thiêu. Một nhà sư đã trở thành con người tử vì đạo"[17] .

Chừng 10 phút sau thì lửa tàn, Thích Quảng Đức đổ gục xuống đường. Một nhóm sư sãi đã bọc thi hài ông bằng áo cà sa vàng và đặt vào một chiếc áo quan bằng gỗ, nhưng không thể gập được tứ chi cho vừa khít. Một cánh tay của Thích Quảng Đức thò ra ngoài trong lúc áo quan được chở đến chùa Xá Lợi gần đó. Lúc 13:30, khoảng 1000 sư sãi tập trung trong chùa để họp trong khi bên ngoài, đám đông sinh viên ủng hộ Phật giáo tập trung giương biểu ngữ: "Một hòa thượng đã tự thiêu vì 5 yêu cầu của chúng tôi" và dàn thành hàng rào xung quanh ngôi chùa. Cuộc họp nhanh chóng kết thúc và sư sãi quay trở lại ngã tư nơi Thích Quảng Đức tự thiêu. Khoảng 18:30, 30 ni cô và 6 nhà sư đã bị bắt vì tội tổ chức cầu nguyện trên phố bên ngoài chùa Xá Lợi. Cảnh sát lúc đó đã bao vây ngôi chùa và chặn đứng sự tiếp xúc với bên ngoài. Những người chứng kiến cảm thấy rằng một cuộc đàn áp vũ trang sắp xảy ra[21]. Chiều ngày hôm đó, hàng ngàn người dân Sài Gòn khẳng định rằng họ đã thấy ảo cảnh trên trời như khuôn mặt Đức Phật. Họ cho rằng Phật tổ đang nhỏ lệ[22].

136555 top -
Rèn luyện bản thân theo lời Phật dạy


Bài pháp này nhắc nhở các bạn về một số vấn điều Phật dạy, như một cách để sách tân, khuyến khích các bạn chăm chỉ thực hành đúng theo lời Phật. Những lời dạy đó được gọi là pháp. Pháp để trang nghiêm tâm. Pháp cũng là phương tiện để phát triển các chức năng của tâm. Bài pháp này dựa trên Patimokkha (Giới bổn), nói về những bổn phận mà các vị Tăng sĩ xuất gia phải tuân giữ, nhưng chúng cũng áp dụng cho hàng cư sĩ. Cư sĩ tại gia có thể tu tập, gìn giữ các giới luật này để rèn luyện thành người tốt hơn, để có thể trở thành tai, mắt, chân, tay trong việc gìn giữ đạo pháp, giúp đạo pháp phát triển.

Image

Những giới luật này, áp dụng cho tất cả mọi người, có thể chia làm các phần chính như sau:


1. Đừng tìm lỗi người khác.
Có nghĩa là đừng nói xấu về người khác, đừng xuyên tạc, đừng nói điều gì gây chia rẽ. Đừng nói sao trái về người khác, hay khuyến khích người khác làm điều ấy. Đừng trách móc, la mắng nhau. Thay vì tìm lỗi người, ta hãy tự thấy lỗi mình. Đó là giới luật. Dầu là hàng tu sĩ hay cư sĩ đều có thể gìn giữ theo giới luật này ở bất cứ nơi đâu, bất cứ lúc nào.


2. Đừng ghét bỏ lẫn nhau.
Thường khi chung sống, không phải mọi người đều cư xử giống nhau. Có người biết cách cư xử khéo léo, người khác lại cư xử thô lỗ – chứ không phải là do ác ý, hãy nhớ điều đó. Về thể chất cũng thế, có người siêng năng, đầy sinh lực; kẻ khác thì yếu đuối, hay bệnh hoạn. Về lời nói thì có người khéo léo, người không. Người nói nhiều, kẻ lại rất kiệm lời; kẻ thì ba hoa đủ chuyện trên trời dưới đất, người chỉ thích bàn chuyện Phật pháp; kẻ thì thường nói sai, người hay nói đúng. Đó được coi là sự không tương ưng.
Khi điều này xảy ra, tất nhiên sẽ có những mâu thuẫn, xung đột ở một mức độ nào đó. Nếu có những điều này xảy ra trong đại chúng, khi cùng sống trong pháp, chúng ta không nên để tâm. Chúng ta cần tha thứ cho nhau, cần rửa sạch những tì vết ra khỏi tâm ta.

Vì sao? Vì nếu không, ta sẽ trở thành ganh tỵ, soi mói, thù hằn nhau. Hành động tha thứ được coi là quà tặng của tâm từ. Nó khiến ta không chấp giữ điều chi, không canh cánh bên lòng điều gì, không bị gây phiền não – đó là những người không mang trong lòng thù hằn.

Dầu đôi khi có sai trái, có lầm lỗi, chúng ta vẫn tha thứ cho nhau. Chúng ta cần nên có lòng thương yêu, tử tế, cảm thông với tất cả mọi người quanh ta, càng nhiều càng tốt. Đó là một phần trong quá trình tu tập làm người Phật tử, dù ở tại gia hay chốn thiền môn.


3. Hành động như thế nào để giúp ta đến gần cửa vào Niết bàn hơn.
Hãy ngồi gần đồ ăn để được ăn. Đừng ngồi xa quá, ta sẽ khó ăn được. Ngồi đủ gần để sự giải thoát ở trong tầm tay, để ta có thể với tới thực phẩm. Nói cách khác, bất cứ hành động gì giúp ta đến gần hơn với đạo pháp, thì ta cần phải hành động như thế. Gần với đạo pháp có nghĩa là đi theo con đường đạo. Người cư sĩ cũng có con đường đạo của mình, giống như hàng xuất gia có con đường đạo của họ.
Tuy nhiên người cư sĩ có thể thực hành con đường đạo của họ theo hai cách.
Cách đầu tiên là giữ gìn năm giới: không giết hại, không trộm cắp, không tà dâm – đây là điều giúp chúng ta sống đạo đức, không nói dối và không sử dụng chất làm say. Đó là một cách sống đưa ta đến gần với Niết bàn. Cách sống đạo thứ hai đối với người cư sĩ là giữ Tám giới luật.
Còn đối với Sa di và các vị Tỳ kheo thì phải giữ 10 hay 227 giới luật (theo Phật giáo Nam truyền).

Ngoài ra, họ cũng không được bỏ qua bất cứ hành động tốt lành nào mà họ có thể làm được. Đừng đi ra ngoài những giới luật đó, làm tổn hại chúng bản thân mình. Nói cách khác, đừng để thân, lời nói hay ý của mình phạm vào các giới luật đó. Đừng thân cận với kẻ ác, những người hành động không kiềm chế. Đừng nghe theo những người không có phẩm hạnh. Đừng để tâm vướng bận vì họ.

Hãy nghĩ đến những thiện hữu, những người mà hành động hợp với những điều tốt đẹp mà ta đang muốn phát triển. Đó là con đường đạo. Bất cứ ai hành động như thế được gọi là đã sống theo Giới bổn, gần ngay cửa Niết bàn.


4. Ăn uống điều độ.
Ở đây chúng ta chỉ nói đến thực phẩm vật chất.
Có ba cách ăn uống thông thường:
Trước hết là tham ăn:
Dầu bụng đã no, nhưng tâm còn đói. Miệng đã no, không thể nuốt trôi nữa, nhưng tâm vẫn muốn ăn nữa. Đó được gọi là tham ăn. Đừng để tánh tham ăn làm chủ bạn.

Cách thứ hai là ăn uống một cách tự tại:
Bạn nhận lãnh những gì có trong bát của mình, và không ăn gì ở ngoài bình bát. Hay bạn chỉ ăn những gì có trước mặt, trong tầm tay. Không đòi hỏi những gì ở xa tầm tay. Không biểu lộ bằng cử chỉ, bằng mắt, hay bằng nét mặt rằng bạn muốn ăn thêm nữa. Chỉ ăn những gì trong đĩa, hay trong bát của bạn. Đó được gọi là ăn uống một cách tự tại.

Cách thứ ba là ăn uống tiết độ:
Đó là một cách ăn uống nền nếp, tốt đẹp trong đạo và cả ngoài đời.
Một ví dụ điển hình là Đại đức Sivali. Sư luôn ăn uống tiết độ. Sư thường nhận được rất nhiều vật phẩm cúng dường. Sư có nhiều vật dụng nhờ sự tiết độ. Đại đức Sivali đã làm như thế này. Khi được cúng dường vải vóc, sư không hề mặc những vải vóc đó, mà đem tặng cho người khác. Khi được cúng dường thực phẩm, sư cũng không dùng chúng, cho đến khi có thể cúng dường lại cho ai đó. Bất cứ bốn vật dụng nào mà sư được nhận – thực phẩm, quần áo, chỗ ở, thuốc men, không kể ít hay nhiều – một khi đã thuộc sở hữu, sư sẽ không sử dụng cho đến khi chia sẻ chúng với những người chung quanh. Khi nhận nhiều, sư chia sẻ với nhiều người. Khi nhận ít, sư vẫn cố gắng chia sẻ. Kết quả đem đến cho sư bao điều lợi ích. Thân hữu yêu mến, các chúng quý trọng, ân cần với sư. Đó là lý do tại sao người ta nói rằng sự rộng rãi kết nối thân hữu, và xóa bỏ hạn thù. Đó là công đức mà Đại đức Sivali đã tạo nên.
Khi ngài qua đời và được tái sinh trong một đời sống đầy đủ, sung túc, không bao giờ ngài phải chịu đói khổ. Ngay cả khi ngài đi đến những nơi hoang vu, nói khó có thực phẩm, ngài cũng không phải chịu đựng thiếu thốn, vất vả.

Câu chuyện này dạy chúng ta rằng, bất cứ chúng ta có gì, chỉ nên sử dụng một phần ba của cải dó, và hãy cho đi hai phần ba còn lại. Những gì có thể đem cho thú vật, ta cho chúng, những gì có thể chia sẻ với bạn đạo, hãy cúng dường với trái tim trong sáng. Đó là ý nghĩa của việc sử dụng một cách tiết độ. Chúng ta sẽ cảm thấy thân tâm nhẹ nhàng khi làm được như thế. Khi tái sinh, chúng ta sẽ không phải chịu đói nghèo.

Cách sống này không chỉ làm tốt đẹp cho đạo, mà đối với xã hội nói chung cũng thế. Đó là phương tiện hữu hiệu nhất để chống khủng bố. Khi người ta không còn nghèo khổ, người ta không dễ bị kích động. Nguyên nhân đưa đến khủng bố là gì? Một phần do người ta đói nghèo, không nơi nương tựa, không ai chăm sóc. Khi đó, con người dễ suy nghĩ rằng: “Tôi khổ, thì mọi người khác cũng phải khổ theo…”. Cách suy nghĩ đó là do con người còn nghèo đói và thiếu thốn. Nhưng tại sao họ đói nghèo? Vì còn có những người chỉ biết lo cho bản thân. Họ không biết chia sẻ với đám đông. Do đó số đông nghèo khó sẽ nổi giận, sẽ trở thành khủng bố.
Như thế khủng bố là do lòng tham lam, ích kỷ, không biết chia sẻ những gì ta có. Nếu có mười đồng, chúng ta có thể cho chín, và chỉ dùng đồng tiền còn lại. Được thế, ta sẽ có biết bao bạn bè, sẽ có tình thương, hòa bình và pháp triển. Tại sao? Vì khi con người có đủ ăn, có nơi trú ngụ, có thể an tâm thì tại sao họ lại phải dấn thân vào những đấu tranh phức tạp?
Đó là lý do tại sao Đức Phật dạy chúng ta tiết độ trong sự hưởng thụ là việc tốt lành, cao thượng, đáng trân quý.


5. Đừng làm người lăng xăng.
Bất cứ khi nào bạn sống ở đâu, hãy sống tĩnh lặng, an bình. Đừng gây chuyện hay "hùa theo" với những người khác. Đừng dây vào những vấn đề phải tranh cãi, trừ khi đó là việc chẳng đặng đừng. Khi bạn đã tu tập, hiểu được bổn phận của mình rồi, thì hãy tìm nơi vắng vẻ, yên tĩnh để sống, để hành thiền. Nếu sống trong chúng, thì hãy thân cận với các chúng thích tĩnh lặng.

Khi sống một mình, ở nơi vắng vẻ, hãy là người trầm lắng. Khi sống trong chúng, hãy là người tĩnh lặng. Chỉ thân cận những gì tốt đẹp, an lành mà chúng bạn đạo có thể mang đến cho bạn.

Khi sống một mình, đừng lăng xăng, bận rộn. Hãy trầm lắng trong hành động, lời nói và tâm ý. Khi sống với nhóm – dù hai hay ba người – đừng dây vào những việc tranh cãi, vì ở đâu có tranh cãi, ở đó không có an tĩnh. Hành động của bạn lúc ấy khó thể tự tại, vì bạn phải náo động. Lời nói của bạn sẽ không được êm dịu. Tâm ý của bạn – đầy những ý nghĩ giận hờn, oán trách – thì không thể an bình. Và điều đó sẽ là nguyên nhân dẫn ta đến bao nghiệp xấu.

Khi bạn sống trong một cộng đồng – khoảng từ 4 người trở lên – bạn phải biết chắc đó là một cộng đồng hòa hợp, không có tranh chấp, cãi vã, không ai muốn làm tổn thương hay gây đau đớn cho ai. Cộng đồng đó phải hòa hợp để tu tập giới luật và Phật pháp. Một cộng đồng có kỷ luật, văn minh, nhắm đến việc phát triển cho tất cả mọi thành viên. Đó là bổn phận của người con Phật, phải sống theo lời Phật dạy, tạo ra nơi thanh vắng để sống, để thân tâm được an lạc.


6. Đừng dễ duôi.
Hãy tinh tấn trong việc hành thiền để đạt được định. Hãy thường xuyên định tâm, hành thiền, để làm gương tốt cho chúng noi theo.
Khi tham vấn đạo, hãy tìm những lời dạy làm thế nào để phát triển chủ đề thiền quán. Hãy trao đổi về những lợi ích của việc hành thiền. Thực tập tẩy sạch những uế nhiễm trong tâm. Làm được như thế, là bạn đang đi trên con đường tiến tới trạng thái tâm cao thượng.
Sâu xa hơn nữa là khi tâm đã được giải thoát khỏi mọi chướng ngại, đã vào được định, không còn dao động lên xuống.

Tâm đã ổn định, kiên cố, mạnh mẽ, không còn gì có thể làm uế nhiễm nó. Vì thế đừng dễ duôi. Hãy luôn tu hành miên mật.

Khi bạn làm được những điều này, là bạn đã sống theo lời Phật dạy. Đây là những lời dạy từ kim khẩu Phật. Vì thế tất cả chúng ta đều phải cố gắng để thực hành những lời ấy nơi bản thân. Nếu bạn đã thấm nhuần những lời dạy này, bằng tâm chân thật, trọn lành, thì dù bạn chưa thể giải thoát tâm hoàn toàn khỏi khổ đau, thì ít nhất bạn cũng đang tự vun trồng, phát triển tâm theo đúng hướng. Những hành động bất thiện mà bạn chưa có được sẽ phát khởi. Trong khi các tánh thiện bạn đã có, sẽ ngày càng tăng trưởng, nở hoa.

Hãy chiêm nghiệm và thực hành. Hãy rèn luyện bản thân để sống đúng theo lời Phật dạy. Làm được như thế rồi, thì bạn sẽ có hạnh phúc, thịnh vượng, tâm bạn ngày càng tăng trưởng trong giáo pháp.


(Diệu Thiên Lý Thu Minh chuyển dịch)

136675 top -
Nhắn bạn Danny vào link này xem nhé,
viewtopic.php?f=90&t=9664&start=10000

Thân ái.

136747 top -
Cám ơn phuong60 thật nhiều, bài RÈN LUYỆN BẢN THÂN ĐỂ SỐNG ĐÚNG THEO LỜI PHẬT DẠY thật hay. Mong bạn sẽ post thêm nhiều bài hữu ích nữa.

136753 top -
Cám ơn lời cám ơn của ninh59.

Mình là Con Nhà Phật!
Pháp danh Quãng Trang.

Chúc bạn thân tâm an lạc.
Nam Mô A Di Đà Phật!

136756 top -
Hạnh phúc của sự từ bỏ


Thời Phật tại thế có Tỳ kheo Bạt Đề, khi chưa xuất gia ông làm quan, sau khi quy y Phật chuyên tu hạnh đầu đà, chỉ ngủ dưới gốc cây và chuyên cần thực hành thiền quán.

Một đêm trong lúc hành thiền bỗng ông reo lên: Hạnh phúc quá! Hạnh phúc quá! Những vị Tỳ kheo đang tu tập gần đó hết sức ngạc nhiên, không ai hiểu chuyện gì. Sáng hôm sau có một vị đến trình sự việc trên với Đức Phật:

- Bạch Thế Tôn, tối hôm qua trong lúc chúng con tọa thiền, chúng con nghe Tỳ kheo Bạt Đề reo lên: Hạnh phúc quá! Hạnh phúc quá! Có lẽ Tỳ kheo Bạt Đề cảm thấy không thoải mái và đang nhàm chán đời sống xuất gia, nên vị ấy nghĩ đến đời sống thế tục giàu sang danh vọng trước kia mà thốt lên như thế.

Trưa hôm đó, Phật cho gọi Tỳ kheo Bạt Đề vào hỏi nguyên do. Đứng trước chúng hội đông đảo, Tỳ kheo Bạt Đề chắp tay bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn, ngày trước làm quan, con có quyền lực, vợ đẹp con xinh, kẻ hầu người hạ, có nhiều của cải, thế mà không cảm thấy an ổn, thoải mái, không cảm thấy vui vẻ hạnh phúc, con luôn sống trong lo âu phiền muộn, sợ hãi. Ngày đêm con quay cuồng với công việc không một phút thảnh thơi, lo chuyện an nguy, thịnh suy, được mất. Nhưng giờ đây, con không có tài sản của cải, không quyền lực danh vọng, không nhà cao cửa rộng, kẻ hạ người hầu, mỗi ngày chỉ ăn một bữa cơm thanh đạm, đêm về ngủ dưới gốc cây, thế mà lòng cảm thấy thảnh thơi an lạc. Hạnh phúc đó trước đây con chưa từng cảm nhận được, nên con buột miệng thốt lên lời vui mừng làm kinh động đến Thế Tôn và các bạn đồng tu. Con xin thành tâm sám hối!

Trước chúng hội, Đức Phật khen Tỳ kheo Bạt Đề:

- Hay lắm, này Bạt Đề! Ông đang đi những bước vững chãi, thảnh thơi trên lộ trình giải thoát. Niềm an lạc của ông, cả chư thiên cũng ước ao huống chi là người đời! (Theo Truyện cổ Phật giáo)

Bài Học Đạo lý:
Có một thứ hạnh phúc mà ít người biết đến, đó là hạnh phúc của sự từ bỏ, thoát khỏi mọi ràng buộc, hệ luỵ của cuộc đời. Thế thường người ta vui khi có bạn bè, quyến thuộc, vui khi có tiền bạc của cải, danh vọng địa vị, vui khi có các thú ăn chơi hưởng thụ. Nhưng những niềm vui đó thường kéo theo nhiều hệ luỵ và không tồn tại lâu dài, bởi chúng luôn biến đổi vô thường.

Từ bỏ những niềm vui thế tục tưởng chừng như không còn gì cả, cuộc sống trở nên vô vị, nhưng hóa ra lại tìm thấy được nguồn chơn hạnh phúc, một thứ hạnh phúc mà không ai có thể cướp đi, không gắn liền với lo âu, sợ hãi. Tuy nhiên, chỉ có thể cảm nhận được nguồn hạnh phúc đó khi dám từ bỏ tất cả những gì mà người đời tìm cầu, mong muốn sở hữu. Người tu thiền khi đạt được trạng thái Sơ thiền thì có niềm hỷ lạc, an tịnh mà người bình thường không có. Ly sanh hỷ lạc, trạng thái hỷ lạc do lìa bỏ những khát vọng, tham đắm. Đây là hạnh phúc của sự từ bỏ.

Niềm vui, hạnh phúc có được từ sự lìa bỏ, xả ly không chỉ có trong quá trình thiền định mà còn có trong quá trình thực hành các pháp lành khác. Ví như khi bố thí, giúp đỡ những người nghèo khó, tàn tật, cơ nhỡ… người ta cũng cảm thấy rất vui và ngập tràn hạnh phúc, dù khi làm những việc đó phải tốn hao công sức, tiền bạc. Sự buông bỏ, cho đi mang lại hạnh phúc còn nhiều hơn là sự nhận lấy. Người ta làm việc thiện không chỉ vì tạo phước mà còn tìm được niềm vui và những giá trị tinh thần.

Cho nên cổ nhân nói: "Làm lành rất vui, đạo lý rất lớn" là vì vậy.

PHAN MINH ĐỨC (Giác Ngộ )

136758 top -
Đức Phật trong nghệ thuật lịch sử tạo hình
Thích Minh Thành



Ngày nay, người tin Phật, tu theo Phật được tiếp xúc với tranh tượng ảnh Phật gần như hàng ngày. Hình tượng Phật hầu như có mặt khắp nơi, có khi treo dưới kính chiếu hậu xe hơi, có khi trang nghiêm ngự trên tòa sen trong chánh điện của một đại già lam.

Hình tượng Phật không những xuất hiện trong những không gian lặng lẽ nơi phòng thờ hay bàn thờ gia đình mà còn xuất hiện trên những đỉnh núi cao ngất và hùng vĩ; không những xuất hiện ở những nơi tín ngưỡng cầu cúng nhang đèn mà thậm chí còn xuất hiện ở những nơi công cộng như khách sạn, nhà hàng... Nhìn lại ngọn nguồn lịch sử, chúng ta thấy rằng để tiến đến mức độ phát triển như vậy, nghệ thuật tạo hình Phật giáo đã trải qua nhiều thời kỳ khác nhau với những cống hiến âm thầm của thế hệ tiền nhân.

Từ xưa, hình tượng Đức Phật đã là chủ đề trung tâm của nghệ thuật tạo hình Phật giáo, người Phật tử luôn cần có hình ảnh Ngài để chiêm ngưỡng, đảnh lễ, cúng dường; và, ý nghĩa hơn cả là noi gương tu tập hay làm đối tượng để thiền định quán chiếu. Hồi sinh tiền, Đức Phật thường vân du hóa đạo và Phật tử tịnh xá Kỳ Viên cảm thấy ưu phiền vì không được viếng thăm, diện kiến. Biết được vậy, Đức Phật dạy rằng cây bồ đề là biểu tướng của Phật, khi Phật vắng mặt hãy viếng thăm, chiêm bái, đảnh lễ cây bồ đề. Công đức, phước báo mà người ấy tạo được sẽ như là viếng thăm và đảnh lễ Phật. Kinh điển còn ghi lại rằng trong thời gian Đức Phật lên cung trời Đao-lợi thuyết pháp, “Điên cuồng vì sự vắng mặt của Ngài, đức vua Udayana đặt làm một bức tượng từ gỗ đàn hương, mà ông tặng cho Đức Phật khi Ngài trở về”(1). Nếu còn thì đó là pho tượng Phật đầu tiên trong lịch sử tạo hình Phật giáo, tuy vậy, khi về lại trần gian, Đức Phật không chấp nhận nó.

Đến lúc Đức Phật Niết-bàn, nhục thân của Ngài vĩnh viễn không còn ở trần gian nữa thì nhu cầu có hình tượng Phật càng trở nên bức xúc. Kinh Niết bàn dù là bản Pàli, Tạng văn hay Hán văn đều ghi nhận việc dùng những lễ nghi và phương thức trà tì nhục thân Phật tương tự với ‘hậu sự’ của một vị Chuyển luân Thánh vương. Sau đó là việc xây tháp phụng thờ ở những ngã tư đường lớn để mọi người đều có thể dâng cúng hương hoa, cờ lọng, tràng phan, bảo cái, kể cả âm nhạc tán tụng.

Thời kỳ đầu, tháp thờ Phật trở thành trung tâm tín ngưỡng, là biểu tướng của bậc Đạo sư. Chiêm ngưỡng tháp Phật là để tưởng nhớ đến những hành trạng và những phẩm tính thù thắng của Phật; việc đó được xem như là có phước đức tương đương với việc chiêm ngưỡng chính bản thân Phật khi Ngài còn tại thế. Ở một số nơi, truyền thống đặc biệt này vẫn còn được gìn giữ, cụ thể là chùa Thông Độ danh tiếng ở Hàn Quốc với ngôi chánh điện không cốt tượng mà chỉ có Xá lợi Phật được tôn trí ở những ngôi tháp phía sau bàn hương án.

Người có tín tâm thời bấy giờ xác định rằng cúng dường lễ bái tháp Phật không phải chỉ vì trong tháp có chứa đựng Xá lợi mà còn vì tháp còn là biểu trưng cho quả vị Chánh đẳng Chánh giác, thậm chí xem tháp là Pháp thân Phật (Dharmakaya). Có thể vì vậy mà tháp Phật ở Bồ đề đạo tràng Ấn Độ còn được gọi là tháp Chánh giác. Mỗi tầng, mỗi bộ phận trong cấu trúc tháp tương ứng với mỗi tầng bậc, mỗi quả vị hay phẩm tính mà vị Bồ tát đạt được trên con đường dẫn đến Phật quả.

Rời khỏi những câu chuyện truyền thuyết, chúng ta có thể xác định rằng nghệ thuật tạo hình Phật giáo có lịch sử bắt đầu từ thời hậu A Dục với 3 di chỉ trọng yếu là Sanchi, Bharut và Amaravati. Để trang trí cho những ngôi tháp cổ kính và vĩ đại ở ba quần thể di tích trên, người Phật tử thời ấy nghĩ ngay đến hình tượng Phật và những ấn tượng mà Ngài đã để lại trong tâm hồn mình. Qua những bức phù điêu trên tháp cũng như cổng rào có độ tuổi trên hai ngàn năm, họ đã kể lại cho chúng ta nghe những câu chuyện hấp dẫn xa xưa. Điểm đặc biệt là trong những câu chuyện này, Đức Phật không xuất hiện với thân tướng con người, thay vào vị trí mà Ngài ngự là những vật biểu trưng. Vì vậy, khách chiêm bái khi thấy bàn chân có in hình bánh xe Pháp thuộc tướng quý của bậc đại nhân thì hãy mường tượng ra Đức Phật đản sinh đang đi từng bước trên đài sen, cất lên lời tuyên bố chấn động tam thiên: Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn. Thấy cội bồ đề hay tòa Kim cang thì hãy mường tượng ra Đức Phật thiền định, đánh bại Ma vương và trạng thái thanh lương tĩnh lặng với quả vị Vô thượng Bồ đề sau đêm thành đạo. Cũng vậy, hình bánh xe thay cho Đức Phật chuyển pháp luân, ngôi tháp thờ Xá lợi thay cho Đức Phật Niết bàn...

Những học giả cho đến nay cũng chưa có thể biết chắc tại sao Đức Phật không xuất hiện bằng hình dạng con người trên các phù điêu mà chỉ xuất hiện thông qua vật biểu trưng nhất là khi mọi người khác đều xuất hiện ‘bằng xương bằng thịt’, từ vua quan đến cung tần mỹ nữ, thậm chí những người bình thường trong đám rước. Khách hành hương thông thường có thể lấy làm lạ nhưng những tâm hồn tinh tế lại lấy làm thú vị. Chúng ta có thể nêu lên ba cách lý giải hiện tượng có mặt mọi người mà không có mặt Đức Phật như sau.

Đức Phật trong hình vóc con người là Đức Phật đã bị giới hạn trong tấm thân xương thịt ít nhất là về mặt thể chất nên không còn phù hợp với những phẩm tính thù thắng, uy hùng, siêu vượt. Hơn nữa, dung sắc phi phàm của Phật khi đó sẽ bị lệ thuộc vào bàn tay khéo léo hay vụng về của những nghệ nhân điêu khắc. Tâm hồn của người Phật tử thuần thành có thể cảm thấy bị tổn thương khi Đức Phật “tuyệt đối” của mình lại ‘bị’ thể hiện bằng những nét đẹp tương đối và đôi khi rất là ‘trần gian’.

Đức Phật trong hình tượng biểu trưng không làm thỏa mãn hoàn toàn nhu cầu tín ngưỡng cúng bái thuộc mọi cấp độ nhưng lại rất phù hợp với pháp thiền quán. Tâm thức của hành giả là vô tận vì vậy mà Đức Phật hiện ra cũng vô tận. Cụ thể, người ta khó có thể thực hiện được một tượng Phật to bằng núi Châu Thới nhưng một hành giả trong khi quán tưởng dễ dàng phóng chiếu ra một vị Phật to như vậy, thậm chí một vị Phật trùm khắp hư không mà vẫn đứng ngồi hay thuyết pháp sinh động.


Truyền thuyết vua Udayana và bức tượng từ gỗ đàn hương mà Đức Phật không chấp nhận đã có ảnh hưởng mạnh trong những thế kỷ đầu khiến cho những người Phật tử dù có khao khát chiêm ngưỡng Phật nhưng vẫn ngần ngại việc tạo hình đúc tượng Ngài theo hướng ‘mày ngang mũi dọc’.
Tình trạng ‘đạo Phật không có tượng Phật’ kéo dài cho đến thế kỷ thứ nhất trước Tây lịch thì Đức Phật trong hình dạng con người mới bắt đầu xuất hiện. Tượng Phật từ đó nhanh chóng trở thành trọng tâm tín ngưỡng Phật giáo với hai trường phái tạo hình lớn là Mathura và Gandhara. Trường phái Mathura khắc họa hình dạng Đức Phật với những đường nét rất gần gũi với những vị thần thánh thuộc tín ngưỡng bản địa Ấn Độ, tròn trịa và sung túc. Trong khi đó với trường phái Gandhara, Đức Phật có những nét đẹp thanh tú của những vị thần Hy Lạp.

Khi đạo Phật lan xa tỏa rộng vượt qua những sa mạc và biển khơi, tiếp xúc với những nền văn minh mới, hình tượng Đức Phật theo đó mà tiếp biến và phát triển, rực rỡ và càng lúc càng phong phú cho đến ngày nay. Đức Phật đã trở nên muôn hình muôn vẻ, ngoài những quy ước căn bản đã mang thêm nhiều yếu tố văn hóa của nhiều địa phương khác nhau. Ngay trong một quốc độ, tùy theo sơn môn bộ phái mà tượng Phật cũng dị biệt, đặc biệt là phương diện nhân tướng, diện tướng. Tượng Phật của Nhật có khuôn mặt hao hao giống người Nhật; tượng Phật của Tây Tạng có khuôn mặt hao hao giống người Tây Tạng; và dĩ nhiên tượng Phật Việt Nam thường giống với người Việt Nam.

Chuyện Phật tử được chiêm bái tượng Phật tưởng chừng dường như là chuyện đương nhiên. Nhưng sự thật, chuyện đương nhiên đó đã không xảy ra trong nhiều thế kỷ. Thế hệ Phật tử trong thời kỳ đầu không hề được chiêm bái Đức Phật trong dạng tranh tượng mãi cho đến thế kỷ thứ nhất trước Tây lịch. Chúng ta thấy rằng dù chỉ có những hình ảnh biểu trưng như tháp Xá lợi, bánh xe Chánh pháp, Phật tử ngày xưa đã khéo léo vận dụng để làm phương tiện quán chiếu và noi gương tu tập.

Một cách cẩn trọng, chúng ta thấy rằng chiêm bái tranh tượng đã không phải là chuyện đương nhiên; và việc chiêm bái theo cách có ý nghĩa nhất chắc chắn cũng không phải đương nhiên mà ai cũng có được. Nhìn bằng đôi mắt lạc quan, chúng ta lại thấy trong cuộc sống hiện đại, người Phật tử tuy phải đối mặt với nhiều thực trạng và tai ách đặc trưng của thời đại, nhưng bù lại, được hưởng nụ cười thanh thoát an nhiên của bậc Đạo sư qua hình ảnh tranh tượng càng ngày càng phong phú, và gần như mọi lúc mọi nơi.



136887 top -
@trunghai,

Chị không hiểu ý nghĩa của bức thư pháp này trunghai ơi!

137002 top -
Image

137018 top -
Bức thư pháp này thật đẹp và ý nghĩa, anh khacvinh ạ!

137035 top -
Kính chào Gia đình Phật tử,

Cho BLTC hỏi: bức thư pháp mà chú trunghai gởi có phải là vẽ hình đức Đạt Ma Tổ Sư ngồi quay mặt vào vách đá?

Cửu niên diện bích thì BLTC biết là chín năm ngồi quay mặt vào vách đá để thiền định. Nói về Đức Đạt Ma Tổ Sư từ Ấn Độ qua nước Trung hoa để truyền Phật giáo, nhưng chưa đến thời kỳ, nên Ngài đến chùa Thiếu Lâm, ngồi quay mặt vào vách đá thiền định trong suốt 9 năm.

Nhưng câu đối/thơ trong bức thư pháp này thật sự BLTC đọc không ra. Chỉ đoán là:

Cửu niên diện bích thùy/thày năng giải
Nhất có/cứ an tâm tuyệt điểm trần


Mong mọi người giải đáp giúp BLTC nhé.

137037 top -
Đọc các bài anh chị post thấy hay lắm. mauxanh thích sự "Thiền và Tinh Thần Vô Ngã trong đạo Phật". Ai quan tâm xin mời vô link dưới đây xem thêm.


http://www.thuvienhoasen.org/tamthai-thien-pg.html

137186 top -
Image

Năm hạnh căn bản của Phật tử tại gia


Năm hạnh căn bản của Phật, là con Phật ai ai cũng phải học và thực hành. Ở đây trong phạm vi Phật tử tại gia áp dụng năm hạnh vào đời sống thực tế để tạo cho mình một nếp sống đẹp đẽ và đem lại cho gia đình, cho xã hội an lạc, thuận hòa và mỹ lệ. Năm hạnh là: Từ Bi, Nhẫn Nhục, Hỷ Xả, Tinh Tấn, Trí Tuệ.

1. Từ Bi:
Tự tâm ta phát hiện lòng thương chân thật, lòng thương này được biểu lộ trong hành động, ngôn ngữ chia vui sớt khổ cho nhau. Phật tử tại gia; đối tượng thực hiện lòng thương này là cha mẹ, anh em, vợ con, sau cùng là thân thuộc hàng xóm. Trong gia đình, lúc nào người Phật tử cũng đem lại sự an vui cho cha mẹ, anh em, vợ con, không bao giờ làm cho ai buồn khổ. Nếu cha mẹ, anh em, vợ con có điều gì đau khổ chính mình phải tìm cách giải cứu san sớt cho được vơi đi. Tức nhiên phải thông cảm nhau vui cùng vui, khổ chung chịu khổ. Tình thương chân thành là sợi dây liên lạc siết chặt mọi người trong gia đình thành một khối, thiếu nó gia đình có thể rời rạc đến rã tan. Ngoài ra, đối với thân thuộc, hàng xóm chúng ta cũng thông cảm chia vui sớt khổ cho nhau. Những khi hoạn nạn, những lúc đau buồn của người thân thuộc nên coi như là hoạn nạn đau buồn của chính ta, cố gắng tìm cách giải cứu. Chỉ có chiếc gàu tình thương chân thật mới tát vơi được dòng sông đau khổ.

2. Nhẫn Nhục:
Đã thương nhau thì phải hòa thuận nhịn nhường nhau. Nhất là đối với cha mẹ, dù mắng rầy quở phạt có phần quá đáng, người Phật tử vẫn nhẫn nhịn cam chịu, không bao giờ dám to tiếng chống đối. Đợi khi nào cha mẹ nguôi cơn giận, ta mới nhỏ nhẹ thưa lại những nổi hàm oan của ta. Với anh em, ta cũng nhẫn nhịn nhau những khi buồn tức, không nên để cho cơn giận dữ nổi lên làm phân ly tình cốt nhục. Nghĩa vợ chồng phải nhường nhịn nhau, khi chồng giận vợ nhường, khi vợ tức chồng nhịn, đợi qua cơn tức giận sẽ nhã nhặn khuyên bảo nhau. Bất cứ sự sống chung đụng nào nếu có đến hai người là có bực tức rầy rà. Thế nên, Phật tử phải khéo nhường nhịn nhẫn nại để giữ hòa khí vui đẹp trong gia đình. Có khi nhường nhịn người ngoài dễ hơn nhường nhịn người trong nhà. Bởi vì người ngoài coi nhau như là khách nhịn một chút cho qua, ít khi gặp lại nhau, người trong nhà ra vào gặp nhau nên có gì bực tức khó nhịn được. Tập nhẫn nhục phải thực hiện ngay trong gia đình trước, khi ở gia đình đã thành công thì đối với người ngoài không khó. Có nhiều người đối đãi với bạn bè hàng xóm rất nhã nhặn vui vẻ, trái lại cư xử trong nhà thì thô bỉ cáu kỉnh. Đó là không biết thực hiện hạnh nhẫn nhục cho chính đáng. Nhẫn nhục bậc thấp nhất là những người có quyền thế bề trên, bậc trung là những người ngang hàng mình, bậc thượng là những kẻ dưới tay mình, Phật tử chúng ta phải tiến từ bậc thấp đến bậc cao tột cùng.

3. Hỷ Xả:
Đã nhẫn nhịn được cần phải hỷ xả không nên ôm ấp buồn phiền trong lòng. Có khi ta nhịn được cơn tức giận, mà trong lòng còn cưu mang uất hận. Như vậy không sớm thì muộn khó tránh khỏi sự cãi vã nhau. Cho nên nhường nhịn nhau rồi, cần phải vui vẻ tha thứ cho nhau không bao giờ nhắc đến lỗi lầm ấy nữa. Đối với anh em, vợ chồng, con cháu sự hỷ xả rất thiết thực cần yếu. Đã là phàm tục như nhau thì có ai tránh được sự lỗi lầm, khi người này phạm lỗi lầm người kia vui vẻ tha thứ, lúc người kia phạm lỗi lầm người này sẵn sàng hỷ xả. Được vậy, trong gia đình sẽ giữ mãi được vẻ ấm êm tình hòa mục, bằng không thì khó thấy sự vui vầy. Cha mẹ luôn luôn có thái độ bao dung sẵn sàng tha thứ lỗi lầm của con. Anh em rộng lượng dung thứ nhau cho tình cốt nhục thêm nồng. Vợ chồng vui vẻ tha thứ cho nhau để giữ một niềm thủy chung như nhất.

Tuy nhiên, vui vẻ tha lỗi nhau, không có nghĩa không chỉ dạy nhắc nhở những lỗi lầm của nhau. Tinh thần Phật tử luôn luôn muốn xây dựng mọi người chung quanh mình được tốt đẹp, nếu thấy người có điều quấy liền nhắc nhở chỉ dạy, khi người nhận lỗi liền vui vẻ tha thứ. Ở trong gia đình người phạm lỗi phải can đảm nhận lỗi, người chỉ lỗi vui vẻ thứ tha. Không nên có tính cách thấy người tha lỗi mình cứ phạm lỗi mãi. Bầu không khí hòa nhã vui vẻ sẽ có nơi những gia đình nào người trong ấy biết nhẫn nhục hỷ xả cho nhau.

4. Tinh Tấn:
Chuyên cần cầu tiến là sự tất yếu của con người hướng thượng. Phật tử tại gia là người sống trong cảnh trần tục mà luôn luôn ôm ấp ý chí hướng thượng, lúc nào cũng cần cầu tiến.

Trước nhất, Phật tử tại gia chuyên cần chuyển hóa tâm niệm, hành động, ngôn ngữ xấu xa của mình trở thành tốt đẹp. Có gắng thế nào thấy mình hôm nay đã tốt hơn hôm qua. Tập quán xấu xa khắn chặt trong tâm thức ta đã lâu rồi không thể nhất đáng sửa đổi được ngay, phải là sự chuyên cần bền bỉ mới có thể thắng được nó. Giá trị tu tập là ở chỗ cố gắng cải hóa bản thân mình.

Thứ đến, Phật tử chuyên cần làm việc hằng ngày theo khả năng mình để đem lại cơm no áo ấm cho gia đình. Chúng ta còn mang xác thân này dĩ nhiên sự ăn mặc không thể thiếu được. Nếu cả ngày Phật tử bàn luận những lý thuyết cao siêu huyền diệu mà trong gia đình vợ con đói rách nheo nhóc, lý thuyết sẽ trở thành chất vị chua cay khiến vợ con chán sợ nó. Hơn nữa, Phật tử tại gia còn phải thực hiện đức Từ Bi của Phật, nên phải chuyên cần làm lụng may ra có dư giả chút ít để giúp đỡ những người tàn tật đói thiếu làm vơi phần nào đau khổ cho nhân loại.

Sau cùng, Phật tử chuyên cần chuyển hóa và điều hòa mọi người trong gia đình. Làm thế nào cả nhà đều chung thờ một lý tưởng, đều cư xử thuận hòa êm ả, đều theo một chiều hướng vươn lên. Được thế người Phật tử mới thấy tròn bổn phận của mình.

5. Trí Tuệ:
Đạo Phật rất chú trọng phần trí tuệ. Có trí tuệ con người mới khỏi lạc lầm đau khổ. Dù người cố gắng làm mọi việc lành, nếu thiếu trí tuệ phán đoán chưa hẳn việc làm ấy đã là lành. Phật tử chúng ta nếu thiếu trí tuệ không thể thành một Phật tử chân chánh được.

Muốn có trí tuệ, Phật tử trước phải phá những cái tin tưởng sai lầm. Tin đồng bóng, sâm quẻ, tướng số v.v... là những hiện tượng mê mờ. Đành rằng đôi khi tướng số cũng đoán trúng, nhưng đó chỉ là do nhân quả nghiệp báo của chúng ta mà thôi. Trong sách tướng có câu: “Hữu tâm vô tướng, tướng tự tâm sanh; tướng vô tâm, tướng tùng tâm diệt”. Nghĩa là người có tâm tốt mà không có tướng tốt; tướng tốt sẽ tùy tâm tốt phát hiện, người tướng tốt mà không tâm tốt, tướng tốt sẽ theo tâm tiêu diệt. Như vậy, tất nhiên tùy tâm niệm, hành động tốt xấu của chúng ta, theo nhân quả sẽ hiện ra tướng tốt xấu nhất là sự ỷ lại thần quyền là hiểm họa tiêu diệt trí tuệ của chúng ta.

Để được khai thông trí tuệ, người Phật tử phải học Kinh điển Phật giáo. Chúng ta chưa có thể tự phát trí tuệ, phải nhờ ngọn đuốc trí tuệ của Phật chiếu phá mê mờ cho ta. Những lời vàng ngọc trong kinh điển là do Phật chứng Nhất thiết trí phô diễn còn ghi lại. Chúng ta y cứ vào đó làm nền tảng khiến trí tuệ khai phát. Nếu không chịu học hỏi giáo lý, người Phật tử ấy chỉ là tấm bia không khác. Vả lại, người ấy muốn tự tu hay chuyển hóa người cũng không biết lấy đâu làm phương hướng.

Nhận xét chân chánh là căn bản của trí tuệ. Người Phật tử nhận xét sự vật trong vũ trụ theo hai chiều Nhân Quả và Nhân Duyên.

Đứng về chiều thời gian, vạn vật thành bại, hư nên, tốt xấu... đều theo định luật nhân quả. Như muốn có lúa ta phải gieo hạt lúa, vun phân xới đất làm cỏ, mưa, nắng, sương và chăm sóc, ngăn ngừa sâu bọ là những điều kiện phụ trợ. Có đủ những điều kiện ấy, trải qua một thời gian, ta sẽ được những bông lúa. Từ nhân hạt lúa, đến quả nhiều bông lúa, bản thân cây lúa có đủ những yếu tố bổ trợ và phá hoại. Không giản dị có hạt lúa sẽ có bông lúa. Thuyết nhân quả gồm có chánh nhân, trợ nhân, nghịch nhân. Hạt lúa đem ra gieo là chánh nhân, phân, đất, nước... là trợ nhân; mưa, nắng, thuận mùa là thuận nhân; sâu bọ, nắng hạn, bão lụt là nghịch nhân. Đó là phân tích tổng quát, nếu phân tích chi tiết còn lắm điều phiền toái. Nhân quả liên chuyền cả ba thời: Quá khứ, hiện tại, vị lai. Chúng ta muốn phán xét một việc phải nhìn suốt ba thời, không nên cắt xén từng đoạn mà đoán định.

Đứng về mặt không gian, không một vật nào tự nó hình thành; phải do nhiều nhân duyên chung hợp; muôn vật trong vũ trụ đều liên hệ nương nhờ nhau, “Cái này có thì cái kia có, cái này không thì cái kia không”. Cái nhà không tự có, sở dĩ có là nhờ cây, gạch, ngói, xi-măng, sắt, cát v.v... Bao nhiêu điều kiện chung hợp lại. Nếu một trong những điều kiện quan trọng ấy thiếu, cái nhà khó thành tựu. Trong kinh Phật, khi nói đến sự tương quan, tương duyên của vạn vật thường lấy bó lau làm thí dụ. Bó lau sở dĩ đứng vững được nhờ nhiều cây nương nhau, nếu ngã đi một vài cây thì bó lau cũng phải ngã. Sự liên hệ chằng chịt giữa cuộc đời mật thiết nhau như thế.

Lý Nhân Quả, Nhân Duyên bao quát cả vũ trụ và nhân sinh, nhưng Phật giáo lấy nhân sinh làm đối tượng, nên hai thuyết lý này được áp dụng triệt để vào sự tu tập của con người.

Người hiểu rõ lý Nhân Quả áp dụng vào sự tu tập bản thân sẽ được những đức tính tốt:

1- Can đảm không kêu than oán trách, khi gặp cảnh khổ đến với mình. Vì biết do nhân mình đã tạo trong hiện tại, hoặc quá khứ còn thừa.

2- Dũng tiến tu thiện, vì biết gieo nhân lành sẽ được hưởng quả lành.

3- Cẩn thận khi sắp làm, sắp nói, vì sợ gây nhân xấu sau chịu quả xấu.

4- Không ỷ lại, vì biết mọi việc do mình tạo nhân, mình hưởng quả không phải sức thiêng liêng nào ban.

5- Không kiêu căng trong cảnh giàu sang, vì biết nhờ nhân lành đời trước nếu khởi hành động xấu sau này sẽ chịu quả khổ.

Người đạt được lý Nhân duyên đối với xã hội có nhiều ý niệm hay:

1- Không ích kỷ, vì biết mình và người tương quan nhau, người khổ tức mình khổ.

2- Không chán ghét xã hội muốn trốn tránh, vì biết mình không thể ly khai xã hội được.

3- Tích cực lợi tha, vì biết người tốt là mình tốt.

4- Không quá khổ đau khi thấy sự hoại diệt, vì biết có hợp phải có tan.

Biết nhận xét và áp dụng lý Nhân Quả, Nhân Duyên như vậy là người có trí tuệ tự tạo cho mình một cuộc sống linh hoạt hợp lý.


(Thư viện Phật học)

137192 top -
Thân tặng Gia Đình Phật tử bức ảnh đẹp.
Image

137236 top -
Gia đình Phật tử VDT
1, 2, 3, 4, 5, 6 ... 14


PayPal về email:
thuquy.vietditru@gmail.com


Chi phiếu gửi về:
Jimmy Ton
4369 46 St.
San Diego, CA 92115



Việt Nam chuyển tới:
Phạm Thị Tuyết Phượng
Số tài khoản: 4973099
ACB Châu Văn Liêm, TPHCM



Ý kiến về Quỹ VietDitru

Image
Image




hello